Siêu âm trị liệu là gì?

Siêu âm trị liệu là một phương pháp điều trị phổ biến trong vật lý trị liệu để điều trị đau và các tổn thương mô mềm

Khái niệm: Siêu âm trị liệu là những giao động cơ học của vật chất trong môi trường giãn nở. Tai người có thể nghe được những sóng âm trong phạm vi giải tần từ 20-20.000Hz. Những âm có tần số dưới 20Hz gọi là hạ âm, trên 20.000Hz gọi là siêu âm. Trong điều trị người ta dùng siêu âm có tần số từ 0,7-3,3 MHz để tăng tối đa hấp thu năng lượng của mô mềm sâu 2-5 cm.

giảm đau, giảm co thắt cơ
Siêu âm điều trị viêm chóp xoay: Tác dụng giảm đau, giảm co thắt cơ.

Tác dụng 

  • Các tác dụng nhiệt

Tác dụng nhiệt tỷ lệ với sự hấp thu của sóng âm của mô. Sự hấp thu phụ thuộc vào bản chất của mô, mức độ tưới máu, và tần số lẫn cường độ của sóng siêu âm. Các mô có tỷ lệ collagen cao có chỉ số hấp thu sóng âm cao (như gân, dây chằng, bao khớp, và cân mạc); các mô có tỷ lệ collagen thấp có chỉ số hấp thu âm thấp (như nước, mỡ, cơ và máu).

Siêu âm làm nóng các mô nhỏ và sâu nhiều hơn hầu hết các tác nhân nhiệt nông.

Độ xuyên tỷ lệ với tần sống siêu âm sử dụng: siêu âm 1 MHz có độ xuyên sâu hơn (đến 5cm) so với siêu âm 3 MHz (xuyên 1-2 cm).

Sự hấp thu nhiệt của siêu âm 3 MHz lớn hơn siêu âm 1 MHz 3-4 lần với cùng cường độ.

  •  Các tác dụng cơ học  

Các ion nội và ngoại bào và các dịch thể bị tác động vận động, được gọi là microstreaming, do đó có thể thay đổi tính thấm và hoạt tính của màng tế bào.

Các bóng khí nhỏ ở trong các dịch của cơ thể chịu lực ép và dãn nở (cavitation), có thể góp phần làm thay đổi tính thấm màng tế bào.

Chỉ định và chống chỉ định và cẩn trọng

Chỉ định:

Siêu âm liên tục (nhiệt nông và sâu)

  • Co thắt cơ
  • Co rút mô mềm
  • Giảm đau

Siêu âm xung hoặc liên tục (để tạo thuận lành mô)

  • Chấn thương hoặc viêm cấp mô mềm
  • Chấn thương hoặc viêm cấp thần kinh ngoại biên
  • Loét da (siêu âm quanh ổ loét)
  • Gãy xương (liều rất thấp 0,15 W/cm2, chu kỳ xung 20%, thời gian 15-20 phút hàng ngày).

Siêu âm dẫn thuốc: tùy theo thuốc sử dụng

Chống chỉ định:

  • Vùng đặt máy tạo nhịp tim
  • Cơ quan sinh dục nam/nữ
  • Não, tủy, vùng tim
  • Vùng đang chảy máu hoặc nhiễm trùng
  • Các khối u ác tính
  • Viêm tắc tĩnh mạch (làm bong các cục huyết khối)
  • Khớp nhân tạo có xi măng

Cẩn trọng:

  • Vùng viêm cấp (tác dụng nhiệt)
  • Đầu sụn tăng trưởng (siêu âm cường độ cao)
  • Gãy xương (siêu âm cường độ cao)
  • Vú giả (siêu âm cường độ cao tạo lực ép có thể gây vỡ)
  • Tác dụng phụ: Ít gặp
  • Bỏng (siêu âm liên tục cường độ cao, trên vùng rối loạn tuần hoàn, cảm giác)

Kỹ thuật áp dụng

Các thông số điều trị của siêu âm

Tần số: Tần số được lựa chọn tùy theo độ sâu của mô được điều trị. Đối với mô sâu lên đến 5 cm, sử dụng tần số 1 MHz, và 3 MHz được sử dụng cho các mô sâu 1-2 cm. Độ xuyên sâu thấp hơn ở các mô có hàm lượng collagen cao và ở các vùng tăng phản xạ.

Chu kỳ xung: Các chu kỳ nhiệm vụ được lựa chọn tùy theo các mục tiêu điều trị. Khi mục tiêu là để tăng nhiệt độ mô, nên dùng một  chu kỳ xung 100% (liên tục). Khi siêu âm được áp dụng với mục đích phi nhiệt, nên dùng  một chu kỳ xung 20% hoặc thấp hơn

Cường độ: Cường độ được lựa chọn theo các mục tiêu điều trị. Khi mục tiêu là để tăng nhiệt độ mô, bệnh nhân sẽ cảm thấy chút hơi ấm trong vòng 2-3 phút bắt đầu ứng dụng siêu âm và không nên cảm thấy tăng mức khó chịu trong thời gian điều trị. Khi sử dụng siêu âm tần số 1 MHz , một cường độ từ 1,5 đến 2,0 W / cm2 nói chung sẽ tạo ra hiệu ứng này. Khi tần số 3 MHz được sử dụng, cường độ khoảng 0,5 W / cm2 là đủ.

Thời gian: Thời gian điều trị được lựa chọn theo các mục tiêu điều trị, kích thước của vùng được điều trị. Thời gian thường áp dụng là 5 đến 10 phút. Khi siêu âm được sử dụng để kích thích sự lành xương, thời gian điều trị dài hơn (từ 15 đến 20 phút) với cường độ thấp.

Số lần và tần số điều trị: Số lần điều trị phụ thuộc vào các mục tiêu của điều trị và đáp ứng của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân đang tiến triển với một tốc độ thích hợp so với mục tiêu, nên tiếp tục điều trị.  Tần số của phương pháp điều trị phụ thuộc vào mức độ của siêu âm được sử dụng và các giai đoạn lành. Siêu âm mức tác dụng nhiệt thường chỉ được áp dụng trong bán cấp hoặc giai đoạn mạn tính, tần số điều trị được đề nghị là 3 lần một tuần; siêu âm ở mức phi nhiệt có thể điều trị trong giai đoạn sớm hơn và áp dụng  hàng ngày.

Di chuyển đầu âm: Đầu âm được di chuyển khoảng 4cm/giây, đủ nhanh để duy trì chuyển động và đủ chậm để duy trì tiếp xúc với da. Nếu đầu âm được giữ cố định hoặc di chuyển quá chậm, các vùng mô dưới trung tâm của đầu phát, nơi cường độ lớn nhất, sẽ nhận được siêu âm nhiều hơn so với các vùng biên. Với siêu âm liên tục, điều này có thể dẫn đến nóng quá mức và làm bỏng các mô ở giữa trường âm, làm giảm hiệu quả của các can thiệp và có thể gây tác dụng phụ. Đầu phát siêu âm được di động chậm theo vòng xoáy, hoặc theo chiều dọc ngang trên vùng da điều trị, luôn đảm bảo đầu phát tiếp xúc với da.

Siêu âm dẫn thuốc:

Sử dụng siêu âm để gia tăng phân bố thuốc xuyên qua da nhờ tác dụng tăng tính thấm của màng sinh học, ở da là lớp sừng.

Siêu âm dẫn thuốc chủ yếu được sử dụng để điều trị mô viêm và đau ở gân, túi thanh dịch, hoặc cơ với các chất corticoid hoặc kháng viêm giảm đau. Siêu âm tần số thấp hơn (như từ 20–100 kHz) làm tăng tính thấm da nhiều hơn. Một thông số điều trị hay sử dụng là chu kỳ xung 20%, cường độ 0.5 đến 0.75 W/cm2 , thời gian 5-10 phút.

 

Nguồn: Tổng hợp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *